CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ DI CHÚC CỦA NGƯỜI

10/09/2014

 

   

        Bác Hồ kính yêu của chúng ta qua đời vào hồi 9h47phút, ngày 2-9-1969. Chiều ngày 3-9-1969, Ban Chấp hành Trung ương khóa III đã triệu tập phiên họp bất thường và giao cho Bộ Chính trị chuẩn bị lễ tang và công bố bản Di chúc của Bác trong buổi lễ truy điệu Người vào ngày 9-9-1969

          Để chuẩn bị kỷ niệm 20 năm ngày Bác đi xa và cũng là 20 năm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện Di chúc của Bác, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khóa VI đã có Thông báo số 151/TB-TW ngày 19-8-1989 về một số vấn đề liên quan đến Di chúc của Bác và ngày Bác qua đời.

          - Về ngày mất của Bác, thông báo nêu rõ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời lúc 9giờ47phút ngày 2-9-1969, ngày Quốc khánh của nước ta. Để ngày Bác mất không trùng với ngày vui lớn của dân tộc, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã quyết định công bố Chủ tịch Hồ Chí Minh mất vào hồi 9giờ47phút ngày 3-9-1969. Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã quyết định công bố Chủ tịch Hồ Chí Minh mất vào hồi 9 giờ 47 phút ngày 3-9-1969. Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI cho rằng cần công bố đúng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời”. (1) (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, trang 51).

          - Về nguyên văn các bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

          + Văn bản Di chúc đầu tiên do Bác tự tay đánh máy, hoàn thành vào ngày 15-5-1969. Văn bản này Bác ghi ở góc trái trang đầu là: “Tuyệt đối bí mật”, phần cuối văn bản Bác ghi: Hà Nội, ngày 15-5-1965 và Bác ký tên, bên cạnh phía bên trái có chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương.

          + Chuẩn bị đến ngày sinh nhật lần thứ 78 của Bác, Bác viết lại phần mở đầu và viết thêm phần về việc riêng. Phần này gồm 2 trang viết tay bằng mực màu xanh, phần sửa chữa và bổ sung Người viết bằng mực màu đỏ.

          + Cũng trong tháng 5 năm 1968, Bác nói: “Tháng 5-1968, khi xem lại thư này, tôi thấy cần phải viết thêm mấy điểm, không đi vào chi tiết” (2) [Sđd, tr 31]. Văn bản này Bác viết 4 trang gồm: Trang 1, trang 2, trang 3a và trang 3b. Đây là văn bản nói về những công việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân ta đã hoàn toàn thắng lợi.

          Ngày 10-5-1969, Bác viết lại toàn bộ phần mở đầu gồm 1 trang viết tay (Người viết bằng mực màu xanh, sửa chữa, bổ sung bằng mực màu đỏ).

          - Về văn bản công bố tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát hành năm 1969, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã lấy phần nội dung theo toàn văn Bác viết ngày 10-5-1969. Phần nội dung tiếp theo dựa chủ yếu vào bản Di chúc hoàn thành ngày 15-5-1965. Phần về việc riêng chỉ lấy đoạn: ‘‘Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, hết sức phục vụ nhân dân, nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa’’(3) . [Sđd. Tr40].

          - Đoạn cuối từ chỗ: ‘‘Cuối cùng tôi để lại muôn vàn tình thân yêu...’’(4)[Sđd,tr40] đến hết là nguyên văn đoạn cuối viết năm 1965. Vì các văn bản đều ghi: Tuyệt đối bí mật, một số nội dung tuyệt mật do hoàn cảnh cuộc kháng chiến lúc đó nên có sửa đổi câu: ‘‘Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài’’(5)[ Sđd. Tr2], viết năm 1965 được công bố là: ‘‘Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài’’(6)[ Sđd. Tr39].

          Văn bản 4 trang viết tháng 5-1968 như một bản Cương lĩnh xây dựng đất nước sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, non sông thống nhất Bắc Nam sum họp một nhà. Lúc đó văn bản này chưa được công bố vì cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước còn đang trong giai đoạn gay go, quyết liệt, chúng ta công bố những đoạn nói trên lúc ấy là chưa thích hợp.

          - Riêng phần Bác về: ‘‘Sau khi tôi qua đời, thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là hỏa táng...’’ (7) [ Sđd. Tr2] năm 1965 và năm 1968[ Sđd. Tr29], lúc đó chưa công bố, nhưng Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khóa III đã bàn luận, cân nhắc rất kỹ và thống nhất cho rằng : ‘‘Cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam, bạn bè quốc tế có điều kiện tới viếng Bác thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Người. Chính vì lẽ đó mà chúng ta xin phép Bác về điểm này được làm khác lời Bác dặn’’(8) [ Sđd. Tr50].

                Văn bản Di chúc công bố công khai trong lễ truy điệu Bác, ngày 9-9-1969 là hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ lúc bấy giờ. Các văn bản được công bố theo Thông báo số 151/TB-TW ngày 19-8-1989 đã thể hiện được tấm lòng, trách nhiệm cao cả, là kim chỉ nam dẫn đường cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam tiến lên, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

          Di chúc của Bác thực sự là tinh hoa của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh để chúng ta mãi mãi học tập và làm theo.

                                                                        Nguyễn Đức Tẩm -Nguyên UVBTV - Trưởng ban tuyên giáo Tỉnh ủy

Tài liệu tham khảo: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1999.

                                                                                                                                            Theo Báo Vĩnh Phúc

 

Các tin đã đưa ngày:

Chung nhan Tin Nhiem Mang