Từ khoán hộ đến đổi mới trong nông nghiệp ở Hợp Thịnh

27/09/2017

Hợp Thịnh là xã đồng bằng, nằm ở phía Nam huyện Tam Dương, có tổng diện tích tự nhiên 4,39 km2 với 1.428 hộ dân. Trong những năm qua, phát huy tư duy đổi mới của đồng chí Kim Ngọc về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, vận dụng tốt những quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước vào thực tiễn địa phương, Hợp Thịnh đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế. 


 Mô hình trình diễn giống lúa Thiên ưu 8 vụ Xuân 2014 tại xã Hợp Thịnh

Ông Lê Bình Dân, Bí thư Đảng ủy xã Hợp Thịnh cho biết: Thời kỳ trước năm 1980, Hợp Thịnh tuy có đất canh tác rộng nhưng thường xuyên xảy ra thiếu lương thực, có những năm sau khi thu hoạch lúa trừ thuế, làm nghĩa vụ đối với Nhà nước và các khoản để lại các quỹ hợp tác xã, phần còn lại chia cho người lao động được khoảng 6kg lương thực/người/tháng. Việc điều hành lao động chủ yếu do Ban quản lý Hợp tác xã nông nghiệp thực hiện. Từ cơ chế quan liêu bao cấp, người lao động trở nên thụ động, người sản xuất không gắn với sản phẩm cuối cùng, dẫn đến công việc chạy theo công điểm là chính, ruộng đồng cỏ mọc tốt hơn lúa, sản phẩm bỏ bừa bãi lãng phí, vật tư không được đưa vào đồng ruộng. Để khắc phục tình trạng thiếu lương thực, lao động bỏ đi chạy ăn, Đảng ủy, UBND xã đã áp dụng nhiều hình thức quản lý lao động như: thành lập các tổ chuyên hóa; ăn chia theo định lượng lao động, lao động ốm phải có giấy xác nhận của trạm y tế xã; khoán bắt buộc, mỗi lao động phải đảm nhiệm diện tích 1,2 mẫu gieo trồng...song vẫn là bài toán giải quyết không đúng đáp số.

Từ sau Chỉ thị 100, tiếp đó là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và vận dụng những chủ trương, kinh nghiệm đã làm từ những năm 70 do đồng chí Kim Ngọc chỉ đạo, Hợp Thịnh đã có những bước đi, cách làm phù hợp với cơ chế mới. Dựa trên những tiềm năng vốn có là đất đai, lực lượng lao động Hợp Thịnh đã áp dụng những biện pháp thâm canh, tăng vụ và liên doanh liên kết với các vụ, viện nghiên cứu, các chuyên gia nông nghiệp đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào mở rộng sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, Hợp Thịnh đã quyết định đưa cây ngô đông vào đất 2 vụ lúa, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các giống lúa ngắn ngày T1, CN2 và các giống ngô 3 tháng, VM1, Ganga 5, TSB2, MSB49 của Trung tâm nghiên cứu ngô quốc gia lần lượt được gieo trồng tại địa phương và mở rộng quy mô sản xuất từ 60 mẫu năm 1981 lên hàng trăm mẫu vào các năm tiếp theo. 

Tiếp tục phát huy tư duy đổi mới, sáng tạo trong sản xuất nông nghiệp của Bí thư Kim Ngọc, năm 1983, khi cả nước đang rơi vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng và loay hoay mãi chưa tìm ra cách khắc phục được bệnh tía lá, bó rễ của cây ngô, Hợp Thịnh vẫn mạnh dạn mở rộng diện tích màu đông bằng giống ngô MSB49, giống ngô hạt trắng răng ngựa sâu cay cho năng suất cao 130-140kg/sào và kết hợp làm thảm bẹ ngô xuất khẩu. Năm 1985, xã lại liên kết với Trung tâm nghiên cứu ngô quốc gia mở rộng diện tích cây ngô lai trên đất 2 vụ lúa bằng giống ngô lai Pacific 11 và giống ngô ĐK 888 của Thái Lan vào đồng đất Hợp Thịnh. Quyết định này đã được nhân dân hưởng ứng, áp dụng 100% diện tích trồng màu vụ đông.  Bên cạnh đó, hợp tác xã đã hướng dẫn bà con nông dân quy trình kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc ngô, đồng thời, khuyến khích các hộ dân chăm sóc đạt năng suất vượt 250kg/sào sẽ thưởng 20kg đạm U Rê, kết quả toàn xã đã gieo trồng được 2.240 mẫu ngô đông. 

Được khuyến khích, nhân dân Hợp Thịnh thi đua sản xuất. Đáp lại lòng người, cây ngô đua nhau dồn dập vươn lên mỗi ngày một khác ngay cả trên những nền đất trũng. Và nhiều hộ dân lúc đó nói rằng “đi ngủ tối, sáng ra thấy ruộng ngô nhà mình khác hẳn hôm trước”. "Sớm lúa, chiều ngô" đã trở thành câu cửa miệng của người dân Hợp Thịnh thời đó. Ngô trồng trên khắp các cánh đồng Hợp Thịnh, trồng cả xuống ao cạn nước; nhìn bạt ngàn thẳng cánh cò bay toàn là màu xanh ngô lai. 

Nói về kinh nghiệm trồng ngô bầu vụ đông trên nền đất ướt, ông Nguyễn Ngọc Nhung, một trong những xã viên hợp tác xã ngày ấy nhớ lại: Lựa chọn cây trồng phù hợp với vụ đông cũng là một bài toán khó, hết suy đi lại tính lại khi cây khoai tây cho năng suất cao nhưng lại khó để giống, cây khoai lang dễ duy trì giống thì lại cho năng suất thấp, cứ như thế cây ngô được áp dụng trên những cánh đồng Hợp Thịnh như một cơ duyên trời ban tặng. Ban đầu, để đưa được giống ngô lai phù hợp trên đất 2 vụ lúa, lãnh đạo và cán bộ nông nghiệp cùng một số xã viên trong Hợp tác xã đến Trung tâm nghiên cứu ngô giống Sông Bôi tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ Trung tâm, Ty Nông nghiệp và áp dụng thực tế trên đồng đất địa phương, càng làm càng tích lũy kinh nghiệm và đã giải quyết được tình trạng sâu bệnh, cây cây ngô phát triển khỏe, sinh trưởng tốt cho năng suất cao. Chỉ trong vòng 5 năm (từ 1981-1985) Hợp Thịnh đã ghi một nét đậm về phát triển lương thực: sản lượng thóc tăng gấp 2 lần, ngô tăng hơn 3 lần. Đặc biệt, diện tích ngô đông tăng gấp 5 lần, đưa mức bình quân lương thực đầu người từ 206kg lên 648kg/người/năm; giai đoạn 1982-1988, năng suất ngô đông đạt từ 13,8 tạ/ha lên 37,7 tạ/ha, với công thức 2 lúa một ngô/năm, đã đưa tốc độ tăng sản lượng lương thực lên 223,6%, đây là tốc độ kỷ lục của một nền sản xuất nông nghiệp ở trung du. Kết quả, đã xóa được nạn thiếu lương thực, chấm dứt tình trạng bỏ ruộng đồng đi chạy ăn của nhiều năm về trước; giải quyết vấn đề lương thực không chỉ đủ ăn, có dự trữ mà còn có lương thực làm hàng hóa, kéo theo đó là làm thức ăn cho chăn nuôi, đẩy mạnh chăn nuôi, phát triển ngành nghề. Từ năm 1981 đến 1985, đàn lợn của xã tăng từ 2.176 con lên 4.581 con, đàn trâu từ 420 con lên 1.080 con và giải quyết việc làm cho 300 lao động trong vùng chuyển sang làm nghề dệt thảm bẹ ngô xuất khẩu. Cũng chính từ đây, Hợp Thịnh trở thành điển hình sản xuất ngô đông được cả nước biết đến. Từ Nam ra Bắc, từ vùng xuôi lên vùng ngược lần lượt về Hợp Thịnh thăm mô hình sản xuất vụ đông trên nền đất ướt. Mỗi năm có trên 200 đoàn khách đến thăm, trong đó có cả các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đến các nhà khoa học nước ngoài.

"Nối tiếp những thành tựu đi đầu cả nước trong việc ứng dụng thành công cây ngô đông trên nền đất ướt và  mở rộng diện tích sản xuất ngô lai, năm 1996, Hợp Thịnh một lần nữa đi đầu trong việc ứng dụng, sản xuất thành công ngô giống vụ đông trên đất 2 vụ lúa. Từ đó đến nay, mỗi năm, Hợp Thịnh xuất bán cho Viện nghiên cứu ngô quốc gia trên 200 tấn ngô giống."-  ông Phạm Đức Cường, Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Hợp Thịnh cho biết.  

Ngoài ra, Hợp Thịnh còn là nơi thường xuyên triển khai thành công mô hình sản xuất cánh đồng kiểu mẫu. Năm 2014, xã triển khai mô hình cánh đồng mẫu lớn có quy mô 60ha, sử dụng phân NPK khép kín trên giống lúa thuần Thiên ưu 8 cho năng suất 2,6 tạ/sào. Năm 2015, mô hình “Sản xuất khoai tây theo tiêu chuẩn VietGap, vụ Đông năm 2015” được xây dựng có quy mô 32 ha cho năng suất 6,5 tạ/sào. Vụ đông năm 2017, Hợp Thịnh xây dựng trình diễn mô hình trồng cây ớt cay chỉ thiên với quy mô 20ha... 

Những sáng tạo trong sản xuất nông nghiệp đã giúp Hợp Thịnh từng bước khởi sắc, đời sống của nhân dân ngày một nâng cao. Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt trên 36 triệu/người/năm, tổng thu ngân sách 6 tháng đầu năm 2017 của xã  đạt trên 6 tỷ đồng. 

Nguồn tin: Lê Duyên -Cổng TTGTDT Vĩnh Phúc

Các tin đã đưa ngày: